Monday, March 25, 2019

Quan Thánh Đế Quân

 Quan Thánh Đế Quân


Quan Thánh: vị Thánh họ Quan.
Quan Vũ (關羽, 162? – 219), cũng được gọi là Quan Công (關公), tự là Vân Trường, Trường Sinh (長生), là một vị võ tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở Trung Quốc. Ngài là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục, với Lưu Bị là vị hoàng đế đầu tiên. Ngài cũng là người đứng đầu trong số ngũ hổ tướng của nhà Thục, bao gồm: Quan Vũ,  Trương Phi, Triệu Vân, Hoàng Trung và Mã Siêu.
Ngài giáng sinh vào ngày hai mươi bốn tháng sáu năm Diên Hi thứ ba đời Đông Hán, ở thôn Hạ Phùng, huyện Giải (sau thành châu Giải), quận Hà Đông, bộ Hiệu Úy của Trực Lệ (nay là thôn Thường Bình, làng Thường Bình, Vận Thành). ([1])
Điểm đặc biệt hiếm thấy trong tín ngưỡng thờ đức Quan Thánh Đế Quân là Ngài được tôn vinh trong cả Tam Giáo (Nho, Phật, Đạo).
Nho giáo thì tôn xưng Ngài là một trong “Ngũ Văn Xương”, lại tôn là “Văn Vệ Thánh Đế”, hoặc “Sơn Tây Phu Tử”; có khi tôn là Á Thánh, Á Hiền. Dân gian Trung Quốc có câu nói: “Ở Sơn Đông có một người làm kinh Xuân Thu (chỉ Khổng Tử); Ở Sơn Tây có một người xem kinh Xuân Thu (chỉ Quan Thánh Đế)”. Có câu này là do thuở bình sinh, Ngài rất yêu kinh Xuân Thu, hễ khi nào rảnh rỗi là ngồi đọc.
Đạo giáo thì thờ Ngài như là một vị gần gũi với Ngọc Hoàng Thượng Đế, tôn xưng Ngài là “Dực Hán Thiên Tôn”, “Hiệp Thiên Đại Đế” hoặc “Vũ An Tôn Vương”.
Phật giáo thì lấy sự trung nghĩa của Ngài làm Hộ Pháp, lại có truyền thuyết Ngài đã từng hiển thánh ở núi Ngọc Tuyền, quy y nhà Phật. Do đó, tôn Ngài làm “Cái Thiên Cổ Phật” hoặc “Hộ Pháp Già Lam”.
Từ điển Nho Phật Đạo” giảng giải về đức Quan Thánh Đế Quân như sau:
“Ngài là vị Võ thánh nhân giáng thần trợ uy được cả Phật giáo và Đạo giáo phụng thờ. Sau khi mất, đầu được táng tại Lạc Dương, Hà Nam (khu lăng mộ Quan Lâm), mình táng tại núi Ngọc Tuyền, Đương Dương, Hồ Bắc. Người đương thời cảm về đức nghĩa của Ngài, hàng năm thờ cúng rất chu đáo. Năm đầu Sùng Ninh (1102), Tống Huy Tông truy phong là “Trung Huệ Công”. Năm Tuyên Hòa 5 (1123) phong là “Nghĩa Dũng Vũ An Vương”. Năm Vạn Lịch 33 (1605) nhà Minh gia phong là “Tam giới Phục ma Đại đế Thần uy Viễn chấn Thiên tôn Quan thánh Đế quân”. Đến thời Thuận Trị nhà Thanh, lại ban sắc phong là “Trung nghĩa Thần vũ Linh hựu Nhân dũng Uy hiển Hộ quốc Bảo dân Tinh thành Tuy tĩnh Dực tán Tuyên đức Quan thánh Đại đế”.
Ngài trở thành vị Võ Thánh sánh ngang với Văn Thánh Khổng Tử. Tương truyền ngay từ thời nhà Tùy, Ngài đã trở thành một trong những vị thần hộ pháp của Phật giáo. Bấy giờ, ở núi Thiên Thai có một nhà sư muốn xây chùa, đang đêm ngủ mộng thấy một vị thần nhân tự xưng là Quan Vũ, nguyện làm đệ tử của Phật, hộ trì Phật pháp. Sau đó, nhà sư bẩm lên Tấn Vương Dương Quảng. Dương Quảng bèn phong Quan Vũ là Già lam thần. Thần tích liên quan đến Ngài trong Đạo giáo càng trở nên phổ biến hơn. Hán thiên sư thế gia nói rằng khi Thiên sư thế hệ 30 của Trương Kế Tiên dùng bùa trừ giao long ở Giải Châu thì Ngài là thiên tướng thủ hạ của thiên sư. Có sách Đạo thư nói tiền thân của Ngài là con rồng già trong chằm núi Lôi Thủ, tôn là Quan Thánh Đế Quân, gọi tắt là Quan Đế.
Hậu thế có nhiều loại văn khuyến thiện thông tục, giả thác tên ngài như Quan Đế Giác Thế Chân Kinh, Quan Đế Minh Thánh Kinh, Giới sỹ tử văn, v.v… lưu truyền rất rộng”. (hết lời trích)
Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của Ngài đã được tiểu thuyết hóa trong Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng, phim ảnh v.v với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời kỳ nhà Tùy (581-618). Ngài cũng được thờ cúng ở rất nhiều nơi, đặc biệt là ở Hồng Kông, với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây Thanh Long đao, cưỡi ngựa xích thố, hoặc ngồi đọc kinh Xuân Thu. Tương truyền thanh long đao của Ngài nặng 82 cân (khoảng 18 kg ngày nay). Dân gian coi Ngài như một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa. Cũng vì cảm khái trước lòng hào hiệp, trượng nghĩa của Ngài mà người đời sau có rất nhiều câu đối đề tặng ngài, trong đó có những đôi câu đôi nổi tiếng như:
Chí tại Xuân Thu, công tại Hán
Trung đồng nhật nguyệt, nghĩa đồng thiên
 
Dịch nghĩa:
Lập chí ở Kinh Xuân Thu, lập công cho nhà Hán
Lòng trung tựa mặt trời, mặt trăng; nghĩa sánh với trời
 
Hoặc:
Xích diện bỉnh xích tâm, kỵ Xích thố truy phong, trì khu thời, vô vong Xích đế
Thanh đăng quang thanh sử, trượng thanh long yển nguyệt, ẩn vi xứ, bất quý thanh thiên
 
Dịch nghĩa:
Mặt đỏ lòng son, cưỡi Xích thố như gió, khi rong ruổi không quên vua Đỏ([2])
Đèn xanh xem sử xanh, nương thanh long yển nguyệt, chốn ẩn vi chẳng thẹn với trời xanh
 
Người xưa cũng có bài thơ tán dương Ngài như sau:
Phiên âm:
Tinh trung xung nhật nguyệt
Nghĩa khí quán càn khôn
Diện xích tâm vưu xích
Tu trường nghĩa cánh trường
 
Dịch nghĩa:  
Lòng trung như mặt trời, mặt trăng,
Nghĩa khí như trời đất.
Mặt đỏ, tâm cũng đỏ,
Râu dài, nghĩa cũng lớn
 
Tại ngôi miếu Quan Vương ở cửa Thiên Nhạc, núi Hoàng Long, huyện Thông Thành (Trung Quốc) có đôi câu đối:
Sinh Bồ Châu, giúp Dự Châu, ngồi trấn Kinh Châu, tay đỏ dựng ngàn thu sự nghiệp;
Anh Huyền Đức, em Dực Đức, chẳng hàng Mạnh Đức, lòng son rung vạn thuở cương thường.   
 
Nhiều đời vua Trung Quốc nối tiếp nhau gia phong cho Ngài từ tước “Hầu” lên đến vị “Thánh” như sau:

Cao Thượng Ngọc Hoàng Tâm Ấn Diệu Kinh

Cao Thượng Ngọc Hoàng Tâm Ấn Diệu Kinh

Thuốc cao tột: tinh, thần hoá khí,
Chuyển pháp luân phục thỉ huyền hào
.(11)
Gìn Không giữ chặt trí cao,
Hạn trong giây phút hiện hào quang ra.
Gió thổi ngọn, điều hoà chơn tức,(12)
Công trăm ngày, chầu chực Thiên Tôn,(13)
Mười hai năm đặng xuất hồn,
Thần thông quảng đại Thiên Môn (14) ra vào.

Người trí thức đạo cao dễ ngộ,
Kẻ tối mê xiêu đổ khó thành.
Muốn về thượng cảnh (15) trời xanh,
Dưỡng nuôi hơi thở, lưu thanh khoẻ Thần.
Ra vào (16) phải cân phân rún mũi,
Sống như không, quên buổi quên giờ.

Cũng như tượng gỗ trơ trơ,
Ngày qua, tháng lại, không ngơ, không tình.
Thân thể vẫn nguơn tinh (17) làm chủ,
Hiệp nguơn thần,(18) khí tụ nên tiên.
Chẳng nên nói rõ diệu huyền,
Gượng lời nói rõ, thâu «diên» (19) làm thần.
Thần qua đá, chẳng dừng không đụng,
Thần bay bay thấu phủng (20) chín trời.
Xuống nước phải rẽ tách khơi,
Vào lửa không nóng, chói ngời Thần Quang,
Thần là rặp, thần hoàn in rặp,(21)
Tinh nương theo khí hấp vo tròn.
Chẳng tiêu, chẳng tán, chẳng mòn,
Như tòng bá lạnh cũng còn tươi xanh.(22)
Ba phẩm thuốc nói rành một lẽ,
Nghe chẳng rồi, đâu tẻ (23) ra nhiều.
Tựu thời ắt có tán tiêu,
Mở thông bảy lỗ (24) thảy đều sáng trưng.
Tợ nhựt nguyệt hai vầng phổ chiếu,
Hiệp qui căn một khiếu trường sanh.
Từ (25) chưa trời đất kết thành,
Chuyển luân biến hoá ngũ hành, lục căn.(26)
Biết thấu rõ mới rằng linh nghiệm,
Chẳng thấu thời rán kiếm đừng hôn.
Kim đơn tàng ẩn nơi lòng,
Không xanh, không trắng, khó đong, khó lường.
Tụng muôn biến mới tường nghĩa vụ,
Lý huyền thâm diệu hữu chớ nghi.
Tụng rồi lòng khá xét suy,
Tâm kinh Ngọc Đế, trẻ ghi cho thường.

***
Chư Tiên xưng tán

THI
Phục nguyên linh chưởng đắc cao thâm,
Thức đắc kim đơn giáo hoá tầm.
Tiên dược diệu huờn hoà chánh khí,
Khí lai dụng ý chuyển thuần âm

Chào mừng Quý Đồng Đạo và Quý Độc giả,

Chào mừng Quý Đồng Đạo và Quý Độc giả,


Góp phần Bảo Thủ Chơn Truyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ và phổ truyền nền Chánh Giáo của Đấng Cao Đài Thượng Đế.
Hân hoan tiếp nhận bài vở của Quý Đồng Đạo, Quý Đọc giả và thân hữu để cùng góp phần phục vụ Đạo Pháp, Nhân sinh và Xã hội.

Teo Chew Temple


Teo Chew Temple hiểu theo tiếng Việt là Đền Triều Châu là một ngôi đền rất đẹp, rất trang khang, khá mới tọa lạc tại một khu nhà ở sầm uất trên đường Turtlewood, kề cận nhà hàng Kim Sơn trên đường Bellaire, Houston, Texas. Đền Triều Châu này có mang tên Việt Chùa Ông Bổn. Bài viết này ghi lại một số chi tiết lịch sử và giới thiệu ngôi Đền/Chùa đặc biệt này.
 
Từ đường Turtlewood rẽ vào đền/chùa là một bãi đậu xe rộng. Nhìn thẳng vào Đền chính là một hồ phun nước tròn nhỏ với 12 sinh vật tượng trưng cho một con giáp (12 năm: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi). Chính giữa bồn phun nước là tượng Phật Bà Quan Âm.
Ngay bên phải của lối vào có một bức tường khắc nổi và trên mặt đất là vòng Bát Quái Âm Dương . Và bên cạnh là một gazebo trang nhã.
Trưóc bậc thềm lên đền là một bức họa vẽ một Linh vật đầu và vẩy rồng, có bốn chân như chân ngựa và rất nhiều biểu tượng khác nhau như hoa đại đóa, bút nghiên, vò rượu, chắc chắn là bức họa có nhiều ý nghĩa nhưng người viết chưa được biết đến.
Một đôi sư tử canh gác đặt ngay trước cửa vào điện. Sư tử đực bên phải, và cái bên trái.
Như tên đền cho biết thì đây là đền do người Triều Châu Phúc Kiến xây cất, và tên Việt cho biết đền có thờ Ông Bổn nên có tên Chùa Ông Bổn.
Nguồn gốc người Triều Châu là một câu chuyện lịch sử lâu đời, khởi thủy là người nước Triệu (thuộc tỉnh Quảng Đông ngày nay) bị Tần Thủy Hoàng đàn áp giết hại. Người Triều Châu buộc phải tha hương sinh sống khắp nơi. Một số lui về phương Nam tỉnh Quảng Đông, một số lên Tây Bắc thuộc tỉnh Phúc Kiến. Ngày nay, có khoảng 2,5 triệu người Triều Châu sống tại Đại lục, trong khi đó có trên 10 triệu người Hoa gốc Triều Châu định cư ở nhiều nước Đông Nam Á, Bắc Mỹ, Úc và Châu Âu. Vậy người Triều Châu có liên quan gì đến Ông Bổn và Ông Bổn là ai mà được tín ngưỡng dân gian trân trọng tôn lên thành thần thánh. 
Ngay trên cửa chính vào đền có ghi bốn chữ (đọc từ phải sang trái) Bổn Đầu Công Miếu (Miếu Bổn Đầu Công)
Vậy Bổn Đầu Công hay viết tắt là Ông Bổn là ai?
Bổn Ðầu Công, là vị thần bảo vệ đất đai và con người.
Về lai lịch Bổn Ðầu Công, học giả Vương Hồng Sển trong tập Saigon Năm Xưa đã cho biết:
Nguyên đời Vĩnh Lạc (1403-1424), vua có sai ông thái giám Trịnh Hòa ( Cheng Ho), cưỡi thuyền buồm dạo khắp các nước miền Đông Nam Á ban bố văn hóa Trung Hoa, và luôn dịp mua về cho hoàng đế Minh Triều những kỳ trân dị bửu Ấn Ðộ,Xiêm La, Miến Ðiện, Cao Miên, Việt Nam, Chiêm Thành, Tân Gia Ba, Chà Và ,Nam Dương Quần Ðảo...
Trịnh Hòa tỏ ra vừa nhà thám hiểm, du lịch, khảo cứu địa dư, ngoại giao, ngôn ngữ học, mỗi mỗi đều tài tình. Đi đến đâu, ông thi nhân bố đức, và đưa người Tàu đến lập nghiệp đến đó, hoặc chỗ nào có người Trung Hoa ở sẵn thì ông chỉnh đốn sắp đặt cho có thêm trật tự. Sau nầy ông mất, dân ngoại kiều cảm đức sâu, thờ làm phúc thần, vua sắc phong "Tam Bửu Công", cũng gọi "Bổn Đầu Công" (đọc theo tiếng Quảng là Pủn Thầu Cúng) gọi tắt là "Ông Bổn".
Tuy mang tên Việt là Chùa Ông Bổn và Đền Triều Châu, nhưng những nhân vật thờ chính là Đức Phật cùng nhiều vị Thần Thánh khác nhau. Tổng cộng theo bản giấy in của đền thì đền thờ 14 vị Thần Thánh. Những vị Thần được thờ là những thần biểu hiệu cho sự giầu có, sang trọng, đạo đức …
Ngay cửa vào chánh điện đền là bàn thờ Ngọc Hoàng thượng đế. Bên trái vào tận cùng chánh điện là Thiên Hậu Thánh Mẫu, bên phải là Phật Bà Quan Âm. Ngoài bàn thờ Ông Bổn, dãy nhà bên phải là nơi đặt điện thờ Quan Công, bà Chúa Sanh (Chúa Sanh nương nương) và bà phu nhân Hoa Phấn (Hoa Phấn phu nhân). Một số vị Thần khác mang tên Quảng Trạch Tôn Vương, Quảng Đại Tôn Vương, Thái Tuế, Tề Thiên Đại Thánh, Tế Công Hòa Thượng…


Do nguyên thủy chỉ là một đền miếu nên Chùa Ông Bổn không có Hòa thượng trụ trì hay tăng ni mà chỉ có một nhóm người do hội người Triều Châu chỉ định đảm trách viện hương khói cho chùa. Ngoài thờ Ông Bổn, Ngọc Hoàng Thượng đế, chùa thờ cúng nhiều vị Thần khác như đã viết ở trên (thờ đa Thần) là do người xưa quan niệm "Vạn Vật Hữu Linh", tức mọi sự việc đều bị chi phối bởi một thần thánh nào đó.
Trong những tín ngưỡng dân gian, thổ Địa cũng là một trong các Thần Tài, nên tập tục thờ Thần Tài rất phổ biến trong các cơ sở thương mại nói chung.
Vì màu đỏ tượng trưng cho vui vẻ, hạnh phúc, dồi dào sức khỏe, may mắn, thịnh vượng nên màu đỏ được dùng rất nhiều tại số lớn đền chùa người Việt và Trung Hoa. Và vàng tượng trưng cho sung túc giàu có nên các tượng Thần có thể là vàng ròng hay giát vàng (mạ vàng).
Gian nhà bên trái của đền chính là toà nhà thờ những người đã qua đời, nơi được trưng bài vị, hình ảnh, trong gian đầu tiên, hai gian tiếp là nơi đặt thờ những hũ tro cốt của người quá cố.

Chùa Bà Thiên Hậu USA


Chùa Bà Thiên Hậu Houston, USA.

Chùa Bà Thiên Hậu USA


Nói đến Chùa Bà Thiên Hậu thì nhiều người nghĩ ngay đến chùa Bà Chợ Lớn ngày trước nay mang tên Chùa bà Thiên Hậu nằm tại Quận 5, Saigon. Chùa này đuợc biết là do người Trung Hoa sang nước Việt từ ngày xưa thành lập và hiện nay vẫn do những ngườiViệt gốc Hoa đảm trách.

Theo học giả Vương Hồng Sển thì Thiên Hậu Thánh Mẫu (vị thần được thờ chính trong chùa) có tên là Mi Châu, người Bồ Dương tỉnh Phước Kiến). Bà sinh ngày 23 tháng 3 năm Giáp Thân (1044)), đời vua Tống Nhân Tông. Sau đó, tám tuổi bà biết đọc, mười một tuổi bà tu theo Đạo Giáo. Mười ba tuổi, bà thọ lãnh thiên thơ: thần Võ Y xuống cho một bộ "Nguyên vị bí quyết" và bà tìm được dưới giếng lạn một xấp cổ thư khác, rồi coi theo đó mà luyện tập đắc đạo.
Một lần, cha bà tên Lâm Tích Khánh ngồi thuyền cùng hai trai (anh của bà), chở muối đến tỉnh Giang Tây để buôn, giữa đường thuyền lâm bão lớn...Lúc đó bà đang ngồi dệt vải cạnh mẹ nhưng xuất thần để đi cứu cha và hai anh. Bà dùng răng cắn được chéo áo của cha, hai tay nắm hai anh, giữa lúc đó mẹ kêu gọi bà, buộc bà phải trả lời, bà vừa hở môi trả lời thì sóng cuốn cha đi mất dạng, chỉ cứu được hai anh. Từ đó mỗi khi thuyền bè ngoài biển bị nạn người ta đều gọi vái đến bà. Năm Canh Dần (1110) nhà Tống sắc phong cho bà là "Thiên Hậu Thánh Mẫu"

Sự tích Bà Thiên Hậu, qua người kể đôi khi có ít nhiều dị biệt nhưng chủ yếu vẫn là đề cao một người phụ nữ Hoa có lòng hiếu thảo, đức hạnh, dám xả thân vì mọi người...Sự đề cao này nhằm mục đích giáo dục.
Mặt khác trên bước đường nguy nan, nhiều sóng gió khi sang vùng đất mới để mưu sinh, người Hoa tin tưởng sự hiển linh của bà sẽ giúp họ vượt qua được mọi trở ngại và được an cư lạc nghiệp. Để tỏ lòng biết ơn sâu xa đối với sự phù trợ của Bà, Chùa Bà Thiên Hậu có vị trí quan trọng đối với người Hoa và cả người Việt. (Wikipedia)

 Trên đất Hoa Kỳ, tại những thánh phố có đông người Việt gốc Hoa  thì có lẽ cũng đều có Chùa Thờ  Bà Thiên Hậu.


Tại Houston ngôi chùa Bà Thiên Hậu được nhiều người truyền miệng là linh thiêng, nhiều phật tử  đủ mọi giới từ bác sĩ, kỹ sư đến thương gia hay người công nhân, người già hay trẻ hàng năm đến ngôi chùa này vay vốn và cuối năm tạ ơn Bà.
“Đầu năm mượn lộc, cuối năm trả lễ. Ngày cuối năm tại chùa Bà Thiên hậu, ban trị sự tổ chức lễ đáp lễ bà để cầu cho tất cả bá tánh được bình an, thế giới hòa bình.” 

Rất nhiều đồng hương với hàng trăm con heo quay và rất nhiều những thùng trái cây, những mâm bánh mứt, hương hoa dâng cúng cầu xin hay tạ bà. 

Chùa Bà Thiên Hậu Houston Texas USA

Chùa Bà Thiên Hậu hay mang tên Teen How Taoist Temple này nằm tại 1507 Delano St, Texas Houston 77003. Hai ngày lễ quan trọng nhất cho từ tháng 4 2015 cho đến cuối năm là  Lễ Đức Bà Thiên Hậu (ngày 23 tháng 3 âm lịch/ Ngày 10 tháng 5, 2015) và ngày Lễ Tạ Ơn Cuối năm (mùng 8 tháng 12 âm lịch/ngày 17  tháng 1, 2016).

Ngoài hai ngày lễ chủ yếu trên, chùa Bà còn tổ chức rất nhiều lễ tôn vinh nhiều vị thần có bàn thờ trong chùa như: Đức Ngọc Hoàng Đại Đế, Đức Quan Thế Âm Bồ Tát,  Cửu thiên Huyền Nữ,  Đức Thành Hoàng, Đức Quan Thánh, Đức ông Thần Tài, Đức Thần Phúc Đức (ông Bổn), v.v…
Theo ông Quang, vị trụ trì hiện tại thì chùa đã hiện diện hơn ba chục năm và do những người Việt gốc Hoa và nay là người Mỹ gốc Hoa-Việt đảm trách.

Dưới đây là một số hình ảnh Chùa Bà Thiên Hậu Houston.

Photos by SVĐG

 Cổng                                                      Chính điện

Bước vào ngay chính điện là bàn thờ Ngọc Hoàng Đại Đế.
Ngay phía sau và chính giữa là bàn thờ Bàn thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu. Bên phải là bàn thờ Đức Quan Thánh, bên trái là bàn thờ Phật Bà Quan Âm. Giữa bàn thờ Phật Bà Quan Âm và Thiên Hậu Thánh Mẫu có một bàn thờ nhỏ thờ Tam Mẫu Nương Nương. Ngoài ra có rất nhiều bàn thờ đặt hai bên tường thờ những vị tài ba đuợc tin là trợ giúp, phù hộ cho người dân được bình an, làm ăn thịnh vượng, sức khỏe, may mắn, v.v...

                                           Đức Ngọc Hoàng Đại Đế

    Đức Quan Thánh                               Đức Quan Thế Âm Bồ Tát

                                          Thiên Hậu Thánh Mẫu
                                        Sân và cổng chùa Bà
                                         
                                             Lư hương bằng đá
Như trên đã ghi, ngày 10 tháng 5, 2015 (tức ngày 23 tháng 3 âm lịch) là ngày Lễ Đức Bà Thiên Hậu, ông Quang cho biết là đồng bào Việt/Mỹ gốc Hoa sẽ tụ họp ở chùa và làm lễ cả ngày. Tất cả khách thập phương đều được đón chào bất kể chủng tộc, tôn giáo nào khác.