Quan Thánh Đế Quân
Quan Thánh: vị Thánh họ Quan.
Quan Vũ (關羽, 162? – 219), cũng được gọi là Quan Công (關公), tự là Vân Trường, Trường Sinh
(長生), là một vị võ tướng thời kỳ cuối nhà Đông Hán và thời Tam Quốc ở
Trung Quốc. Ngài là người đã góp công lớn vào việc thành lập nhà Thục,
với Lưu Bị là vị hoàng đế đầu tiên. Ngài cũng là người đứng đầu trong số
ngũ hổ tướng của nhà Thục, bao gồm: Quan Vũ, Trương Phi, Triệu Vân,
Hoàng Trung và Mã Siêu.
Ngài giáng sinh vào ngày hai mươi bốn tháng sáu năm Diên Hi thứ ba đời
Đông Hán, ở thôn Hạ Phùng, huyện Giải (sau thành châu Giải), quận Hà
Đông, bộ Hiệu Úy của Trực Lệ (nay là thôn Thường Bình, làng Thường Bình,
Vận Thành). ([1])
Điểm đặc biệt hiếm thấy trong tín ngưỡng thờ đức Quan Thánh Đế Quân là Ngài được tôn vinh trong cả Tam Giáo (Nho, Phật, Đạo).
Nho giáo thì tôn xưng Ngài là một trong “Ngũ Văn Xương”, lại tôn là “Văn
Vệ Thánh Đế”, hoặc “Sơn Tây Phu Tử”; có khi tôn là Á Thánh, Á Hiền. Dân
gian Trung Quốc có câu nói: “Ở Sơn Đông có một người làm kinh Xuân Thu (chỉ Khổng Tử); Ở Sơn Tây có một người xem kinh Xuân Thu (chỉ Quan Thánh Đế)”. Có câu này là do thuở bình sinh, Ngài rất yêu kinh Xuân Thu, hễ khi nào rảnh rỗi là ngồi đọc.
Đạo giáo thì thờ Ngài như là một vị gần gũi với Ngọc Hoàng Thượng Đế,
tôn xưng Ngài là “Dực Hán Thiên Tôn”, “Hiệp Thiên Đại Đế” hoặc “Vũ An
Tôn Vương”.
Phật giáo thì lấy sự trung nghĩa của Ngài làm Hộ Pháp, lại có truyền
thuyết Ngài đã từng hiển thánh ở núi Ngọc Tuyền, quy y nhà Phật. Do đó,
tôn Ngài làm “Cái Thiên Cổ Phật” hoặc “Hộ Pháp Già Lam”.
“Từ điển Nho Phật Đạo” giảng giải về đức Quan Thánh Đế Quân như sau:
“Ngài là vị Võ thánh nhân giáng thần trợ uy được cả Phật giáo và Đạo
giáo phụng thờ. Sau khi mất, đầu được táng tại Lạc Dương, Hà Nam (khu
lăng mộ Quan Lâm), mình táng tại núi Ngọc Tuyền, Đương Dương, Hồ Bắc.
Người đương thời cảm về đức nghĩa của Ngài, hàng năm thờ cúng rất chu
đáo. Năm đầu Sùng Ninh (1102), Tống Huy Tông truy phong là “Trung Huệ Công”. Năm Tuyên Hòa 5 (1123) phong là “Nghĩa Dũng Vũ An Vương”. Năm Vạn Lịch 33 (1605) nhà Minh gia phong là “Tam giới Phục ma Đại đế Thần uy Viễn chấn Thiên tôn Quan thánh Đế quân”. Đến thời Thuận Trị nhà Thanh, lại ban sắc phong là “Trung nghĩa Thần vũ Linh hựu Nhân dũng Uy hiển Hộ quốc Bảo dân Tinh thành Tuy tĩnh Dực tán Tuyên đức Quan thánh Đại đế”.
Ngài trở thành vị Võ Thánh sánh ngang với Văn Thánh Khổng Tử. Tương
truyền ngay từ thời nhà Tùy, Ngài đã trở thành một trong những vị thần
hộ pháp của Phật giáo. Bấy giờ, ở núi Thiên Thai có một nhà sư muốn xây
chùa, đang đêm ngủ mộng thấy một vị thần nhân tự xưng là Quan Vũ, nguyện
làm đệ tử của Phật, hộ trì Phật pháp. Sau đó, nhà sư bẩm lên Tấn Vương
Dương Quảng. Dương Quảng bèn phong Quan Vũ là Già lam thần. Thần tích liên quan đến Ngài trong Đạo giáo càng trở nên phổ biến hơn. Hán thiên sư thế gia nói
rằng khi Thiên sư thế hệ 30 của Trương Kế Tiên dùng bùa trừ giao long ở
Giải Châu thì Ngài là thiên tướng thủ hạ của thiên sư. Có sách Đạo thư
nói tiền thân của Ngài là con rồng già trong chằm núi Lôi Thủ, tôn là Quan Thánh Đế Quân, gọi tắt là Quan Đế.
Hậu thế có nhiều loại văn khuyến thiện thông tục, giả thác tên ngài như Quan Đế Giác Thế Chân Kinh, Quan Đế Minh Thánh Kinh, Giới sỹ tử văn, v.v… lưu truyền rất rộng”. (hết lời trích)
Là một trong những nhân vật lịch sử của Trung Quốc được biết đến nhiều
nhất ở khu vực Đông Á, hình tượng của Ngài đã được tiểu thuyết hóa trong
Tam Quốc diễn nghĩa của La Quán Trung và sau
này được khắc họa trong các dạng hình nghệ thuật như kịch, chèo, tuồng,
phim ảnh v.v với những chiến tích và phẩm chất đạo đức được đề cao cũng
như được thần thánh hóa trong các câu chuyện dân gian, bắt đầu từ thời
kỳ nhà Tùy (581-618). Ngài cũng được thờ cúng ở rất nhiều nơi, đặc biệt
là ở Hồng Kông, với tượng mặt đỏ, râu dài, tay cầm cây Thanh Long đao,
cưỡi ngựa xích thố, hoặc ngồi đọc kinh Xuân Thu. Tương truyền thanh long
đao của Ngài nặng 82 cân (khoảng 18 kg ngày nay). Dân gian coi Ngài như
một biểu tượng của tính hào hiệp, trượng nghĩa. Cũng vì cảm khái trước
lòng hào hiệp, trượng nghĩa của Ngài mà người đời sau có rất nhiều câu
đối đề tặng ngài, trong đó có những đôi câu đôi nổi tiếng như:
Chí tại Xuân Thu, công tại Hán
Trung đồng nhật nguyệt, nghĩa đồng thiên
Dịch nghĩa:
Lập chí ở Kinh Xuân Thu, lập công cho nhà Hán
Lòng trung tựa mặt trời, mặt trăng; nghĩa sánh với trời
Hoặc:
Xích diện bỉnh xích tâm, kỵ Xích thố truy phong, trì khu thời, vô vong Xích đế
Thanh đăng quang thanh sử, trượng thanh long yển nguyệt, ẩn vi xứ, bất quý thanh thiên
Dịch nghĩa:
Mặt đỏ lòng son, cưỡi Xích thố như gió, khi rong ruổi không quên vua Đỏ([2])
Đèn xanh xem sử xanh, nương thanh long yển nguyệt, chốn ẩn vi chẳng thẹn với trời xanh
Người xưa cũng có bài thơ tán dương Ngài như sau:Phiên âm: Tinh trung xung nhật nguyệt Nghĩa khí quán càn khôn Diện xích tâm vưu xích Tu trường nghĩa cánh trường Dịch nghĩa: Lòng trung như mặt trời, mặt trăng, Nghĩa khí như trời đất. Mặt đỏ, tâm cũng đỏ, Râu dài, nghĩa cũng lớn
Tại ngôi miếu Quan Vương ở cửa Thiên Nhạc, núi Hoàng Long, huyện Thông Thành (Trung Quốc) có đôi câu đối:
Sinh Bồ Châu, giúp Dự Châu, ngồi trấn Kinh Châu, tay đỏ dựng ngàn thu sự nghiệp;
Anh Huyền Đức, em Dực Đức, chẳng hàng Mạnh Đức, lòng son rung vạn thuở cương thường.
Nhiều đời vua Trung Quốc nối tiếp nhau gia phong cho Ngài từ tước “Hầu” lên đến vị “Thánh” như sau:

No comments:
Post a Comment